
Đêm ở Jơ Ngây tôi nghĩ luẩn quẩn khá nhiều. Bên ánh đèn sáp tù mù, tôi chống mắt lên cố đọc vài trang trong quyển sách viết về người Katu của Le Pichon. Đau mắt khủng khiếp. Nhưng khó ngủ quá. Không ngủ được thì chỉ có cách là dậy, chui ra khỏi mùng và thích làm gì thì làm, miễn là đừng có giả vờ ngủ. Ngủ thế nào được khi kim đồng hồ chỉ mới lăn qua cái ngưỡng 10p.m. Hay đây chỉ là căn bệnh của những người thành phố ? Người thành phố làm gì vào tầm 10pm ? Còn loanh quanh ngoài đường ? Nấn níu ở các quán cà phê ? Loay hoay trên Nét ? Uống thêm một cốc trà cho tỉnh táo để tiếp tục làm việc ? Tán dóc với vợ con trước cái tivi màn hình phẳng ? Viết lách. Vân vân và vân vân. Người ở phố có nhiều thứ để làm lắm. Người ở phố luôn bận rộn. Tôi không phải là người thành phố, về một mặt nào đó. Nhưng xét về mặt sinh hoạt buổi tối, tôi giống vài người trong số họ.
“ Ngủ đi em, làm chi mà ngồi hoài ngoài rứa ?”. Cô giáo thò đầu ra khỏi chăn hắng giọng bảo tôi. “ Ngủ sớm quá, em chịu. Bình thường vẫn thế này hả chị ?”. Tôi cười hỏi lại. “Ừ, biết làm chi đâu. Soạn bài xong thì ngủ thôi. Ở đây 9 giờ là ai nấy đã lên giường hết rồi. Nghỉ sớm đi nghe !”. Tôi dạ. Cây sáp cháy sắp hết, đổ những hình thù kì dị trong lòng chén. Tôi cạy một ít, chà chà vẽ vẽ những con chữ nguệch ngoạc lên mặt bàn. Nguệch ngoạc và vô nghĩa. Hết cây sáp này thì sẽ thắp sang cây khác. Cô Hạnh đã chuấn bị sẵn một cây để trong hộc bàn cho tôi từ chiều. Tôi mà ở đây thêm vài hôm nữa thì toi hết đống sáp dự trữ mất. Mà như thế thì không được. Từ cái trường học thôn Jà Há này mà muốn ra trung tâm xã mua sắm thì phải đi bộ mất độ hơn 1 tiếng đồng hồ , men theo đường núi, qua 2 cái cầu treo, lội 2 con suối. Người ở đây chỉ cất gùi ra ngoài ấy mỗi tuần một lần. Tôi không có ý làm cháy rụi mấy cây sáp để dành ấy. Nhưng không ngủ được thì tôi phải làm gì ?
Đường dây điện to xù xụ chạy ngang trước trường học, đi ngang qua nhà Gươl của thôn. Nhưng các nhà trong thôn không có điện. Trường học cũng không có điện. Tôi thắc mắc vậy cái đường dây điện chạy về đâu , để làm gì ? Căn phòng ở của các cô giáo ở đây là được “trích” lại từ 3 lớp học. Năm ngoái trong chương trình tài trợ phát triển vùng của World Bank, dãy nhà học 3 phòng được dựng lên. Thôn dữ lại 2 phòng để các em học, phòng còn lại dùng làm nhà ở cho các giáo viên. Mọi sinh hoạt ăn, uống, ngủ nghỉ, soạn giáo án, tiếp khách đều xoay quanh trong căn phòng ấy. Hôm mới lên, tôi tò mò nhìn quanh không bỏ qua một chi tiết. Cũng giông giống một căn phòng kí túc, nhưng căn phòng này tất cả các cửa số đều nhìn ra núi , núi và cây dại. Không thấy rẫy. Không biết rẫy ở đâu. Tôi hỏi một cô bé. Cô trả lời bằng thứ tiếng Việt lơ lớ “ Rẫy ở xa lắm, bên kia núi kia kìa“. Cô bé có đôi mắt to lay láy, trong veo vẻo và hoang dại. Không chỉ riêng cô bé, tất cả bọn trẻ ở đây đều có những đôi mắt như vậy. Trời lạnh dưới 20 độ mà bọn chúng cứ cởi trần chạy nhông nhông, tóc tai rối bù khét nghèn nghẹt. Đứa lớn ẵm đứa bé. Suốt cả buổi chiều bọn chúng cứ bám riết lấy tôi và thằng Anh. Chúng thích được chụp hình.Chúng tò mò trước cái máy quay to kềnh thằng Anh vác trên vai. Chúng nhìn vào cái màn hình LCD của máy ảnh, cười rần rật, cười khoái chí, miệng léo nhéo lao nhao “ Ah, ah, Phiến kìa, Phiến, Phiến ! ”. Phiến 19 tuổi, biết chữ, khá xinh gái, mặc một chiếc váy dài quấn cao lên quá ngực, mép dưới gần đến cổ chân, cổ đeo một xâu các hạt mã não và xương của một loài động vật nào đó. Với ngưòi Katu, mã não là vật trang sức ,khoe sự giàu có, đồng thời là để tránh tà ma. Ngày xưa, trong các lễ cưới, nhà gái thường đòi hỏi nhà trai trong đồ dẫn cưới phải có ít nhất một dây chuyền có 12 hạt mã não. “ Em đã xuống Đà Nẵng lần nào chưa ? “, tôi hỏi. Phiến cười cười nhìn tôi trả lời nhỏ nhẹ “ Dạ chưa”. Đà Nẵng cách Đông Giang chừng 3 tiếng đồng hồ chạy xe máy, đường núi quanh co chút, nhưng tương đối dễ đi. Tôi tự hỏi, có bao giờ Phiến đặt câu hỏi “ Bên kia núi , ở dưới kia, có phải là thành phố ? ”, “ Bên kia núi là cái gì ?”.
“ Em chưa ngủ hả ? “. Anh Giảng về. Anh cùng vào thôn với tôi khi tối . Sau đó tôi về trước , còn anh ở lại với mấy ông trưởng bên chum rượu cần. Rượu thì tôi uống được. Nhưng đồ nhắm thì kinh khủng, cá gì đó đâm ở dưới suối và lòng lợn lòng gà gì linh tinh . Tanh lắm, tôi cố gắng lắm mới không oẹ ra ngoài. Cô giáo còn hù tôi là may chưa bị mời ăn thịt chuột. Vậy nên sau khi đi bê đèn cho thằng Anh quay xong mấy cảnh làm cơm lam, nướng thịt, trang trí cây cột tế, nhảy muá tập duyệt là tôi xin phép được biến về trường ngay lập tức. Cả buổi tối thằng Anh không ăn được gì, bụng lép kẹp, nhưng về đến phòng là nó leo lên giường ngay tức khắc. Không biết nó đang giả vờ ngủ hay thật sự đã ngủ. Cái bọn 8X thành phố như nó mới lên núi được 1 bữa mà nhìn mặt mũi thảm hại đến ghét. Mới ăn cơm rau dớt có một buổi chiều mà đã thở than, suốt buổi tối cứ loay hoay sờ soạng chiếc L7 mới cứng mẹ nó vừa mua cho, nhưng nhắn nhít cái quái nào được, sóng đâu mà nhắn, đến Vina như máy tôi mà còn nhấp nháy thì Mobile như nó có mà đi ngủ sớm.
Anh Giảng người Quế Sơn, không biết thế nào lại chạy lên cái huyện Đông Giang này làm cán bộ. Tôi bảo anh là tôi dị ứng mấy ông cán bộ. Anh cười. Tôi nói thật. Mấy lần đi làm từ thiện, tiếp xúc với mấy ông cán bộ thôn xã tôi ớn tới cổ. Đủ các loại giấy tờ thủ tục. Tuần trước ở Vân Canh cũng vậy, để được vào một cái làng Chăm bé tí tẹo mà phải chầu ở uỷ ban xã từ 7 giờ sáng để xin phép. Thực ra thì cái anh Giảng kia chỉ bằng tuổi tôi, kém hơn 1 tháng. Nhưng trót gọi anh từ lúc mới lên, nên mọi người bảo cứ gọi thế cũng không sao. Vả lại đám con trai đứa nào chả thích được gọi là anh. Anh ta hỏi tôi cái gì đó đại loại là lý tưởng sống. Lý tưởng sống ? Nghe đỏ quá. Làm sao mà tôi nói với anh được. Có nói chắc gì anh đã hiểu. Tôi bảo tôi không có máu làm lãnh đạo, không nghĩ là tôi sẽ kết nạp Đảng như các anh. Đơn giản là vì làm lãnh đạo đồng nghĩa với đi họp nhiều, vào Đảng thì phải suốt ngày gương mẫu chính trực nói chuyện chủ trương chính sách. Tôi không chịu được cung cách họp hội của các cơ quan nhà nước ta. Tôi rất hay ngọ nguậy trái phải. Nên tôi chỉ là tôi hiện tại thôi, một đứa da vàng bị nhiễm hệ tư tưởng phương tây. Tất nhiên, tôi biết nói như thế trước một Đảng viên là không nên, nhưng mà tôi có sao nói vậy, chẳng việc gì phải giấu diếm việc tôi nghĩ gì. Tôi kể cho anh nghe về việc tôi đã học những gì ở nhà trường và ở các chuyến đi. Tôi là một kẻ tham lam. Trên mỗi chuyến xe tôi luôn luôn hỏi một câu hỏi “ Bên kia núi là gì ?”, “Ở nơi đó có người ở không ?” Tôi đã đi mòn hết đôi giày nọ đến đôi giày kia mà vẫn thấy mình còn ở đâu đâu. Tôi suýt bảo anh ta là tôi thích động tác cột giây dày. Khi ngồi cột giây dày, tôi sẽ nhìn xuống đôi giày của mình và biết được nó mòn tới đâu, nó dính những loại đất gì, những loại cỏ gì. Đôi giày của tôi có thể cho tôi biết tôi đã ở đâu, tôi đã làm gì, tôi đang làm gì, và tôi sắp sửa làm gì. Tất nhiên là tôi không nói điều này với anh ấy. Tôi thấy anh ta bắt đầu ngáp. Đã sắp một 1 giờ sáng rồi còn gì. Suốt buổi chiều anh ta đã tình nguyện cưỡi chiếc xe Win của anh ta chở tôi chạy qua mấy con suối. Một người tốt bụng, chân thật và sống có lý tưởng rõ ràng. Tôi cũng tốt ( nếu ai đó chịu khó soi kĩ ).Với tôi, sống không làm hại ai là đã ổn lắm rồi. Tôi muốn được làm việc , được chăm sóc những người tôi yêu thương. Tôi muốn có nhiều tiền để cuộc sống được thoả mái. Tôi muốn lâu lâu được đi một chuyến, đi đâu cũng được, miễn là được vận động. Tôi muốn đem tình yêu thương đến cho những người kém may mắn hơn tôi.
“ Em có nghĩ là mình sẽ lên lại đây lần nữa không ? “, anh ta vẫn còn muốn hỏi mặc dù mắt mũi anh ta tôi biết , là đã rim ríp. “Có chứ, nếu có dịp”. Tôi bảo.”Nếu lần sau lên lại đây, thì mục đích của chuyến đi sẽ khác. Thôi, anh đi ngủ đi”. Và anh ta đi ngủ.
Đêm hôm đó không nhớ là tôi đã đi ngủ lúc mấy giờ. Chỉ nhớ là sau đó tôi ngồi co chân bên bàn soạn giáo án của mấy cô giáo thêm một lúc, đọc thêm vài trang , sau đó ra ngoài hiên đứng nhìn về trong thôn. Ở đó trai gái vẫn còn đang nhảy múa thâu đêm, ông lớn thì uống rượu, số còn lại quây quần bên nhà bếp xẻ thịt hoặc chum chúm bên hai cái bếp củi tập thể nướng cơm lam. Phải mất 3 tiếng đồng hồ mới nướng chín một ống cơm, một lần được hơn 10 ống. Con trâu tội nghiệp đi lủi thủi quanh cây cây cột tế . Nó đâu biết là ngày mai, người ta sẽ đâm vào nó ít nhất là 3 nhát vào sườn bên phải. Những tiếng hú gọi lẫn trong tiếng cồng chiêng bảng lảng cả núi rừng. Họ hồn nhiên. Đêm đậm sương.
Một tuần sau .
Tầng 2 của quán cà phê xoay mặt xuống lòng sông. Bên trái nhìn về núi. Trước mặt về xa là biển . Bên phải là 2 cây cầu., một nhỏ – trẻ, một to-già. Tôi thích cái to và già. Những ngày có nắng vàng buổi chiều, tôi vẫn hay thích chạy lên sân thượng cơ quan nhìn về cây cầu. Người Đà Nẵng gọi nó là cầu Đà-Lách. Bây giờ có nhiều cầu bắt qua sông nên giao thông trên cây cầu ấy đã giảm đi đáng kể, hầu như chỉ có xe tải. Nhưng mỗi khi có việc phải chạy qua quận 3, tôi vẫn thích đi trên cái cầu ấy. Cầu to và thoáng rứa mắc chi không đi ! Việc chi phải chen chúc nhau trên cái cầu Trần Thị Lý chật hẹp như cái lỗ mũi tai nạn rình rập ! Hay tại người ta có thói quen có mới nới cũ ? Người ta sợ đi trên cây cầu già ít người sẽ thấy buồn ? Nhưng mà thú thật, buổi chiều từ tầng thượng cơ quan tôi hay từ quán café tôi đang nhắc đến mà nhìn về cây cầu già kia thì tuyệt . Từng nhịp cầu cứ vàng rực lên trong gió biển mặn hăng.
Chỗ ngồi của tôi tại tầng 2 cái quán ấy là cái bàn gỗ có 3 cái ghế sơn trắng ngay sau cây cột điện và trước một chậu cây. Có đứa bảo tôi sẽ chết nếu có sự cố. Nề gì. Chỗ nguy hiểm nhất bao giờ cũng là chỗ đẹp nhất. Tôi đã ngồi ở đó được hơn 2 năm rồi. Và tôi chưa chết.
Bạn và tôi nói khá nhiều, từ a đến z, từ đông sang tây, nam lên bắc, trong ra ngoài. Người ta cho bọn tôi nghe đủ các loại nhạc nhẽo. Không biết là bạn có cho tôi là con nhỏ nói nhiều , nói linh tinh. Vui tôi mới nhiều chuyện thế, chứ không thì đừng có hòng mà cạy họng được tôi. Và khi mãi nói về một cái gì đó, tôi thường nhìn ở đâu đó, xa rất xa. Tôi kể về chuyến đi gần đây nhất của tôi. Về cái khổ sở khi bị bó giò một chỗ. Về cái tôi hiện tại, cái tôi che giấu, và cả cái tôi nổi loạn. Bạn bảo tôi đang mất phương hướng ? Có thật là tôi đang mất phương hướng ? Hay tôi là một kẻ lạc lõng trên đường đi ? Tôi không biết.
Giữa những khoảng lặng trong buổi café ấy, tôi nhớ lại cái đêm ngồi ở Jơ Ngây. Khi tôi ngồi ở nơi gọi là thành phố nhốn nháo này, ở trên kia các em bé đang làm gì nhỉ ? Tôi vẫn không sao nhổ ra khỏi óc mình cái hình ảnh buổi chiều gió lạnh quay quắt, đám dã quỳ hoang vông vênh nở bên mép núi, ngôi nhà Gươl buồn tẻ chênh vênh giữa bãi đất trống và đám trẻ con đen nhẻm vác nhau chạy nhong nhong , tóc vàng hoe, không dép, không áo, không mũ, không quần, đôi mắt hoang dại, nụ cười hồn nhiên mà buồn ẩn. Chúng ta cách nhau 3 giờ đồng hồ chạy xe máy. Chúng ta là 2 mặt của một dãy núi. Phải không ? Phiến bảo một ngày nào đó em sẽ ghé thăm tôi. Một ngày nào đó em sẽ xuống Đà Nẵng. Tôi hứa là khi nào em xuống, đến cơ quan tìm tôi, tôi sẽ dắt em đi chơi. Người lớn rất hay hứa.
“Một ngày nào đó tớ muốn lên lại Jơ Ngây ” tôi lại tiếp tục câu chuyện với bạn. Tôi muốn mua lên cho các em một ít dụng cụ học tập và sách vở. Những việc này tôi có thể làm được. Và tôi đã từng làm. Không chỉ riêng tôi, mà tất cả mọi người đều có thể . Tôi không phải là đứa sống ích kỉ. Chúng ta không ai là ích kỉ, nhưng chúng ta có quá nhiều lí do để biện hộ. Ở quán café hôm ấy, tôi còn muốn nói nhiều hơn nữa, nhưng cam đoan là bạn chưa bao giờ đọc được hết những suy nghĩ của tôi…
(6/ 1/ 2007)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét